*

relational database

A database organization method that links files together as required. In non relational systems (hierarchical, network), records in one file point to the locations of records in another, such as customers to orders and vendors to purchases. These are fixed links set up ahead of time to speed up daily processing. In a relational database, relationships between files are created by comparing data, such as account numbers and names. A relational system has the flexibility to take any two or more files and generate a new file from the records that meet the matching criteria. Routine queries often involve more than one data file. For example, a customer file and an order file can be linked in order to ask a question that relates to information in both files, such as the names of the customers that purchased a particular product. In practice, a pure relational query can be very slow. In order to speed up the process, indexes are built and maintain ed on the key fields used for matching. Sometimes, indexes are created “on the fly” when the data is requested. The term was coined in 1970 by Edgar Codd, whose objective was to easily accomodate a user’s ad hoc request for selected data.

cơ sở dữ liệu quan hệ
Một phương pháp tổ chức cơ sở dữ liệu vốn liên kết các file lại với nhau theo yêu cầu. Trong các hệ thống không quan hệ (mạng, hệ thống phân cấp), các record trong một một file khác, chẳng hạn như các record khách hàng trỏ sang các record đơn đặt hàng và các record nhà cung cấp trỏ sang các record đơn đặt hàng và các record nhà cung cấp trỏ sang các record đơn đặt hàng và các record nhà cung cấp trỏ sang các record nhá mua hàng. Có các liên kết hỗn hợp được cài đặt trước để tăng tốc độ xử lý hằng ngày. Trong một cơ sở dữ liệu quan hệ, các quan hệ giữa các file được tạo bằng cách so sánh dữ liệu, chẳng hạn như các tên và các số tài khoản. Một hệ thống quan hệ có tính linh động để áp dụng hai hay nhiều file và tạo một file mới từ các record vớn đáp ứng điều kiện kết. Các query thường trình thường liên quan đến thông tin trong cả hai file, chẳng hạn như các tên của các khác hàng mua một sản phẩm nhất định. Thực tế, một query quan hệ thuần túy có thể rất chậm. Để tăng tốc độ xử lý, các index (chỉ mục) được tạo và được bảo quản trên các trường khóa được sử dụng cho việc kết. Đôi khi, các index được tạo lúc dữ liệu được yêu cầu. Thuật ngữ này do Edgar Codd đặt ra vào năm 1970 với mục đích là để dễ dàng chứa yêu cầu đặt biệt của người dùng về dữ liệu được chọn.


Published:

PAGE TOP ↑